Hiển thị các bài đăng có nhãn Âm thanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Âm thanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015

Công suất loa và chuyện nghe to nhỏ

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Bạn đang nghe âm thanh từ một cái loa, bây giờ tăng gấp 2 công suất loa. Liệu bạn cảm thấy âm thanh bự gấp 2 chăng? Không đâu, đời không như là mơ.!

Gọi L là cường độ âm thanh trong thang dB. Ta có L = 10log(I/Io), trong đó I là cường độ âm thanh tính theo đơn vị W/m2 và Io là cường độ ngưỡng nghe của tai người.

Khi tăng I gấp 2, ta có 10log(2I/Io) = 10log(I/Io) + 10log2 = L + 3dB. Nói cách khác, khi tăng I gấp 2 thì L chỉ tăng thêm 3dB. Trong thực tế, mức tăng này chẳng thấm vào đâu, tai người nghe thấy nhỉnh hơn chút đỉnh chứ chẳng ăn thua mấy.

Nếu tăng I gấp 4 lần, cường độ âm thanh tăng 6 dB, tạo nên cảm giác âm thanh bự rõ rệt, đáng đồng tiền bát gạo.

Khi tăng I lên 10 lần, cường độ âm thanh tăng 10 dB và tai người cảm thấy nghe to gấp đôi. Nói cách khác, để tăng cảm giác nghe to gấp đôi, bạn cần 10 cái loa thay cho 1 cái ban đầu (khoảng cách từ loa đến tai được giữ nguyên).

Âm thanh khủng.


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Phi tuyến và tuyến tính trong kỹ thuật âm thanh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Một gói mì tôm giá 3.000 đồng, vậy N gói giá bao nhiêu? Đáp áp là N x 3.000 đồng. Liệu đúng hay sai?

Nếu N nhỏ tương đương bán lẻ, công thức trên là đúng vì được bên mua và bên bán chấp nhận. Tuy nhiên, khi N rất lớn, 10.000 gói chẳng hạn, công thức trên không còn đúng nữa do tiết kiệm được nhiều chi phí trong: vận chuyển, lưu kho, quản lý,...

Nói chung, các đại lượng trong thế giới thực hiếm khi quan hệ tỉ lệ thuận theo đường thẳng (tuyến tính) mà thường theo đường cong (phi tuyến). Ưu điểm của quan hệ tuyến tính là dễ hiểu, dễ nhớ.

Do đó, một nhu cầu đặt ra là chuyển đổi thang đo từ phi tuyến sang tuyến tính. Chẳng hạn, mức độ nghe to nhỏ của tai người có quan hệ phi tuyến với cường độ âm thanh theo thang W/m2 nhưng lại tuyến tính theo thang dB.

Ví dụ: khi tăng cường độ âm thanh gấp 10 lần tai người chỉ cảm nhận âm thanh to gấp 2 lần thôi. Tại sao? Hãy bắc thang lên hỏi ông trời đã thiết kế tai người như thế.

Tăng cường độ âm thanh gấp 100 lần thì tai người nghe bự gấp 4. Ngộ ghê.

Âm thanh và tai người.


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Lắng nghe âm thanh phát ra từ người đẹp

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Cái đẹp chủ yếu được chuyển tải qua hình ảnh đến con mắt nên người đẹp thường quan tâm đến hình thể, phục trang và trang sức.

Thế nhưng, âm thanh cũng được người đẹp chú trọng để nâng cái đẹp của mình lên một tầm cao mới. Chẳng hạn, luyện nói luyện hát để tiếng nói tiếng hát êm ái, quyến rũ hơn.

Âm thanh không chỉ phát ra từ mồm mà còn từ những bộ phận khác, chẳng hạn từ ngón tay khi tung tăng phím đàn.

Âm thanh từ người đẹp.


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Ngưỡng nghe - Ngưỡng đau của tai người

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Nếu âm thanh quá nhỏ, tai người không nghe được. Các nhà khoa học xác định  cường độ âm thanh nhỏ nhất mà tai người nghe được gọi là ngưỡng nghe, có cường độ âm thanh chuẩn Io = 10-12 W/m2 ứng với tần số 1kHz.

Một âm thanh có cường độ I tính theo đơn vị W/m2, được đổi sang thang đo đề-xi-ben theo công thức L=10 log(I/Io).

Nếu I = Io, ta có L = 0dB. Dễ nhớ, dễ hiểu hơn đơn vị W/m2 vì cứ 0 dB coi như chớm nghe được âm thanh.

Nếu I < Io, tai người không nghe được, nhưng micro vẫn có thể thu được để đưa vào khối xử lý âm thanh.

Nếu I > Io, tai nghe được, nhưng nếu I > 130 dB tai bị đau nên gọi là ngưỡng đau.

Tai người nghe được trong phạm vi cường độ âm thanh từ ngưỡng nghe đến ngưỡng đau, tức 0 dB đến 130 dB.

Để tiện tính toán, kỹ thuật âm thanh chọn ngưỡng nghe và ngưỡng đau ứng với âm thanh có tần số 1kHz. Trên thực tế, ngưỡng nghe và ngưỡng đau sẽ khác nhau khi thay đổi tần số.

Tiếng còi xe lửa ở khoảng cách 1m đạt 120 dB. Để nghe đã tai, dàn nhạc Disco cần tới 115 dB, Rock 110 dB, Pop 100 dB, giao hưởng 90 dB.

Phụ nữ và âm thanh.


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Equalizer - Bộ cân bằng âm sắc âm thanh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Để âm thanh hay hơn, cần điều chỉnh âm sắc. Âm sắc là đặc tính tâm lý của âm thanh và được chi phối định bởi đặc tính vật lý của âm thanh.

Do đó, để điều chỉnh âm sắc, chúng ta điều chỉnh phổ và biên độ của âm thanh.

Nếu tăng hoặc giảm cường độ âm thanh trên toàn bộ phổ 20Hz-20kHz thì tai nghe thấy to hoặc nhỏ hơn nhưng âm sắc vẫn như thế.

Do đó, để điều chỉnh âm sắc, chúng ta cần điều chỉnh cường độ âm thanh của từng vùng phổ trong phạm vi 20Hz-20kHz.

Chẳng hạn, trên các đầu karaoke đơn giản có 3 núm LOW (hoặc Bass), MID, HIGH (hoặc Treble) để tăng giảm cường độ âm thanh của các vùng phổ tương ứng: 20Hz-250Hz, 250Hz-6kHz, 6kHz-20kHz.

Ba núm LOW, MIDS, HIGH thuộc về chức năng của EQUALIZER - bộ cân bẳng âm sắc. Với các equalizer cao cấp, có hàng chục núm để phân nhỏ vùng phổ và sự cân bằng càng tinh tế hơn.

Equalizer.


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Đặc trưng âm sắc của mỗi giọng hát

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Phổ âm thanh của tiếng nói nằm trong phạm vi 20Hz - 20KHz, về cơ bản trùng với phổ âm thanh mà tai người nghe được.

Tuy nhiên, chất giọng của mỗi người khác nhau do phổ âm thanh phát ra khác nhau, tạo nên âm sắc khác nhau.

Ca sĩ PHAN ĐÌNH TÙNG có giọng nam cao (năng lượng âm thanh trội hơn ở vùng phổ trên 6kHz).

Giọng hát của ca sĩ LAM TRƯỜNG được xếp vào nhóm nam trung (năng lượng âm thanh chiếm ưu thế trong phạm vi 250Hz - 6kHz).

Còn Huỳnh Minh Hưng có nghệ danh ĐÀM VĨNH HƯNG ứng với giọng nam trầm (năng lượng âm thanh dưới 250Hz nhỉnh hơn).

Mỗi chất giọng chỉ phù hợp với một số giai điệu và tiết tấu. Nếu chọn lựa bài hát không hợp lý sẽ có chất lượng âm thanh kém, không cạnh tranh được với đối thủ, thậm chí nghe như đấm vào tai.

Mời quý vị lắng nghe bài hát ANH CÒN NỢ EM qua tiếng hát nam trầm của Mr. ĐÀM tại (link) và qua chất giọng nam cao của PHAN ĐÌNH TÙNG tại (link).

Phan Đình Tùng.


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Đặc tính sinh lý của âm thanh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

ĐỘ CAO CỦA ÂM: là đặc tính sinh lý của âm. Âm có tần số nhỏ gọi là âm trầm, tần số cao ứng với âm cao, giữa vùng âm trầm và âm cao là âm trung.

ĐỘ TO CỦA ÂM: là đặc tính sinh lý của âm. Độ to của âm phụ thuộc vào cường độ và tần số của âm.

SẮC THÁI CỦA ÂM (ÂM SẮC): là đặc tính sinh lý của âm, phụ thuộc vào cường độ và phổ của âm. Trong âm nhạc, âm sắc thể hiện phẩm chất của một nốt nhạc hoặc âm thanh.

Dựa vào âm sắc có thể phân biệt được âm thanh của các nhạc cụ trong cùng một ban nhạc đang chơi.

Âm sắc tạo nên bản sắc tiếng hát của mỗi ca sĩ. Việc điều chỉnh âm sắc để tiếng hát hay âm nhạc hay hơn là cần thiết và thực hiện được.

Dàn nhạc.


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Mixer - Bộ trộn âm thanh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Trên sân khấu, có nhiều nguồn âm thanh khác nhau như: diễn viên, nhạc cụ. Mỗi diễn viên, mỗi nhạc cụ là một nguồn âm thanh riêng biệt. Để có được âm thanh tổng thể cần trộn chúng lại.

Mix là trộn (động từ), Mixing là chuyện trộn (danh từ), còn Mixer là bộ trộn âm thanh. Ở các đầu karaoke đơn giản, bộ trộn có 4 ngõ vào gồm: 2 kênh đầu vào micro, 1 kênh music lấy từ đĩa CD ra và 1 kênh Eco để tạo hiệu ứng âm thanh.

Tuy nhiên, với các mixer xử lý âm thanh hậu kỳ điện ảnh, có đến 24 kênh tín hiệu đầu vào, thậm chí nhiều hơn nếu ghép nối. Ngoài ra, còn có hàng chục đến hàng trăm kênh (ảo) với tín hiệu được lấy ra từ các file thu âm sẵn.

Mixer.


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Amplifier - Bộ khuếch đại âm thanh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Amplify là khuếch đại (động từ), Amplification là sự khuếch đại (danh từ), còn Amplifier là bộ khuếch đại. Tuy nhiên, thiên hạ thường dùng từ Ampli để chỉ bộ khuếch đại âm thanh cho trơn mồm.

Chức năng của bộ khuếch đại âm thanh là làm bự tín hiệu âm thanh, khi đưa ra loa sẽ có âm thanh bự về cường độ.

Trên thiết bị âm thanh, các núm có tên Volume hoặc Gain ứng với chức năng điều chỉnh hệ số khuếch đại. Trái lại, trong một số phần mềm xử lý âm thanh, hệ số khuếch đại có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi tham số.

Liên quan đến yếu tố công suất, bộ khuếch đại âm thanh được chia làm hai nhóm. Thứ nhất, bộ khuếch đại công suất để đưa tín hiệu mạnh ra loa - chỉ tập trung cho sứ mệnh làm bự âm thanh.

Thứ hai, bộ khuếch đại tích hợp với bộ trộn (mixer) và bộ cân chỉnh âm sắc (equalizer). Khi đó, mỗi kênh tín hiệu đầu vào đều có núm chỉnh mức khuếch đại riêng. Ngoài ra, sau khi trộn âm thanh để có âm thanh tổng hợp, lại có núm chỉnh âm lượng cho tín hiệu này.

Bộ khuếch đại.


Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

Những lý do cần lồng tiếng cho phim

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

THỨ 1: Có diễn viên ngoại hình đẹp, biểu cảm tốt nhưng chất giọng quá tệ hoặc không phù hợp cảnh phim. Mượn tiếng nói của người khác lồng vào.

THỨ 2: Nhân vật trong phim không phải người thực. Mượn tiếng người để nói hộ.

THỨ 3: Phim nước này du nhập vào nước kia. Cần biên dịch và thuyết minh theo ngôn ngữ khác.

THỨ 4: Thu âm ngoài hiện trường khi quay phim thường xuất hiện những âm thanh không mong muốn. Chẳng hạn, chó ở đâu chạy đến sủa, tiếng động của các vật dụng hay thành viên đoàn làm phim sơ ý tạo ra.

THỨ 5: Âm thanh trong phim không chỉ có tiếng nói mà còn nhiều thứ khác như: âm nhạc, âm thanh vật chuyển động (mở cánh cửa, bước chân, lật trang giấy,...) hay âm thanh nền rì rì của đô thị.

THỨ 6: Có rất nhiều hiệu ứng gia tăng chất lượng âm thanh không thể thực hiện ngay tức thì khi quay phim.

Nhân vật ảo. (ảnh: nguồn internet)


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

Các tầng âm thanh trong điện ảnh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Chuyên gia âm thanh David Sonnenschein chia âm thanh ra 6 tầng:

- TẦNG TRONG CÙNG: Tôi nghĩ (I think), là âm thanh phát ra từ tâm tưởng của nhân vật, không ai khác ngoài khán giả có thể nghe được. Ví dụ: âm thanh trong những giấc mơ hoặc ký ức, những lời nội tâm của nhân vật.

- TẦNG THỨ 2: Tôi là (I am), là âm thanh được tạo ra từ chủ thể. Ví dụ: tiếng tim đập, tiếng nói, tiếng thở, tiếng dạ dày réo khi đói.

- TẦNG THỨ 3: Tôi chạm (I touch), là âm thanh tạo ra bởi tác động của nhân vật tới thế giới bên ngoài. Ví dụ: tiếng bước chân, tiếng các đồ vật khi được con người chạm tới. Đây cũng chính là xuất phát điểm của việc lồng tiếng động trong studio bằng cách chạm vào các đồ vật.

- TẦNG THỨ 4: Tôi thấy (I see), là âm thanh khi nhân vật có thể nhìn thấy nguồn phát của âm thanh đó. Ví dụ: miệng chuyển động cùng với lời nói thoát ra, tiếng xe hơi chạy qua, tiếng TV.

- TẦNG THỨ 5: Tôi biết (I know), là âm thanh off screen (ngoài màn hình), nhân vật không thể nhìn thấy nguồn phát nhưng vẫn có thể nhận biết được đây là âm thanh do vật hoặc hành động nào tạo ra. Ví dụ: tiếng người nói chuyện ngoài tầm mắt, tiếng mưa rơi, gió thổi bên ngoài căn phòng.

- TẦNG NGOÀI CÙNG: Tôi không biết (I don’t know): là âm thanh mà nhân vật không biết đó là âm thanh biểu trưng cho điều gì và đến từ đâu. Ví dụ: những tiếng động gây tranh cãi về nguồn phát của nó, hoặc những ngôn ngữ mà ta không hiểu.

Nắm rõ được 6 tầng âm thanh này, kỹ thuật viên âm thanh có thể áp dụng vào bộ phim để đạt hiệu quả cao nhất. Ví dụ; đối với tầng âm thanh “Tôi không biết”, khi sử dụng những âm thanh dạng này có thể gây nên sự ngạc nhiên, sự kinh hoàng, hoặc tạo ra tiếng cười cho khán giả.

Tầng âm thanh trong cùng. (ảnh: nguồn internet)


Trần Ngọc Truyền tổng hợp từ rgb.vn và nguồn khác trên internet.

Nguồn âm thanh đối với khán giả

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

ON SCREEN: là âm thanh khán giả nghe được và thấy được nguồn phát trên màn ảnh. Chẳng hạn, tiếng nói của nhân vật.

OFF SCREEN: là âm thanh khán giả nghe được nhưng không nhìn thấy nguồn phát trên màn ảnh. Chẳng hạn, tiếng gầm gừ của con sư tử trong lùm cây khi nhân vật trong phim tiến đến đấy.

OUT SCREEN: loại âm thanh này chủ yếu là nhạc phim.

Chuyên gia âm thanh người Mỹ, David Sonnenschein phân chia đối tượng nghe âm thanh chủ yếu gồm hai nhóm sau:

- Ngôi thứ nhất: nhân vật trong phim, là chủ thể.

- Ngôi thứ ba: khán giả, là khách thể.

Ngoài ra, trong một số trường hợp khác như trong một cảnh nghe điện thoại thì chỉ có nhân vật mới có thể nghe được âm thanh từ đầu dây bên kia, còn khán giả thì không.

Trái lại, cũng có trường hợp chỉ khán giả mới nghe thấy âm thanh còn nhân vật thì không. Chẳng hạn, trong một bộ phim hành động, chỉ khán giả mới nghe tiếng bước chân của kẻ tấn công, điều này tạo nên tâm lý hồi hộp, lo lắng của khán giả đối với nhân vật sắp bị tấn công.

Nguồn âm thanh nào? (ảnh: nguồn internet)


Trần Ngọc Truyền tổng hợp từ rgb.vn và nguồn khác trên internet.

Phân loại chất lượng âm thanh điện ảnh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Chuyên gia âm thanh người Mỹ, David Sonnenschein đưa ra 10 đặc tính của âm thanh như sau:

Chuyên gia âm thanh người Mỹ, David Sonnenschein đưa ra 10 đặc tính của âm thanh như sau:

1) ÂM LƯỢNG (volume), tính chất: mềm mại (soft), ồn ào (loud).

2) CAO ĐỘ (pitch), tính chất: thấp (low), cao (high).

3) THANH SẮC (timbre), tính chất: đơn giản (simple), phức tạp (complex).

4) TỐC ĐỘ (speed), tính chất: chậm (slow), nhanh (fast).

5) NHỊP ĐIỆU (rhythm), tính chất: trật tự (ordered), hỗn loạn (chaotic).

6) KHỞI PHÁT (attack), tính chất: đột ngột (sudden), dần dần (gradual).

7) ĐỘ DÀI (sustain/duration), tính chất: ngắn (short), dài (long).

8) ĐỘ VANG (decay), tính chất: đột ngột/tiếng khô (sudden/dry), dần dần/tiếng ướt (gradual/wet).

9) HƯỚNG (directionality), tính chất: hẹp (narrow), rộng (wide).

10) HÀI HÒA (harmony), tính chất: phụ âm (consonant), chói tai (dissonant).

Chuyên gia David Sonnenschein. (ảnh: nguồn internet)



Trần Ngọc Truyền tổng hợp từ rgb.vn và nguồn khác trên internet.

ON-LINE và OFF-LINE trong xử lý âm thanh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Trong các bữa tiệc đám cưới, có hai cách ứng xử với thực đơn như sau.

THỰC ĐƠN OFF-LINE, cho biết trước gồm những món gì và trình tự bưng lên ra sao. Khi đó, thực khách xây dựng được chiến lược ăn tối ưu, dành bụng xơi những món đúng gu, lai rai chút đỉnh những món không ưa.

THỰC ĐƠN ON-LINE, không được biết trước, bưng lên món nào xào món đó. Trong tình huống này, thực khách chỉ biết quá khứ và hiện tại, còn tương lai vẫn phải chờ xem ra sao. Rất dễ bị hố, xơi toàn món dở hoặc bụng đói ra về.

Xử lý âm thanh cũng vậy, gồm off-line và on-line.

Với xử lý âm thanh OFF-LINE, âm thanh được thu và ghi lại dưới dạng file rồi dùng PHẦN MỀM xử lý, sau đó mới sử dụng.

Với xử lý âm thanh ON-LINE, âm thanh chui qua micro, đi vào hệ thống PHẦN CỨNG xử lý rồi chui ra loa liền tù tì để phục vụ khán giả tại chổ hoặc truyền đi lên internet hay truyền hình.

Hát nhép chẳng qua là dùng dữ liệu OFF-LINE để né đi nhược điểm của dữ liệu ON-LINE.

Âm thanh on-line. (ảnh: nguồn internet)



Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Thuật ngữ âm thanh trong điện ảnh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Audio: Âm thanh lời thoại, âm thanh môi trường.

Background Music: Nhạc nền.

Beat: Khoảng lặng nhẹ trong dòng chảy của lời thoại hoặc trong một hành động.

Bloop: Thiết bị âm thanh dùng để xóa tạp âm trong quá trình thu tiếng trực tiếp tại hiện trường.

Âm thanh điện ảnh. (ảnh: nguồn internet)

Loa hú dữ dội - Nguyên nhân và giải pháp

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Loa hú một vừa hai phải thì có nhiều nguyên nhân, nhưng hú dữ dội thì cầm chắc như sau:

NGUYÊN NHÂN: âm thanh đầu ra ở loa vô phúc lọt ngược lại vào mico. Quá trình làm bự âm thanh của bộ khuếch đại gây bão hòa tín hiệu đầu ra.

GIẢI PHÁP: tránh chuyện này bằng cách không để micro giơ đầu chịu báng trước loa. Đôi khi, âm thanh từ loa đi vào micro một cách gián tiếp, chẳng hạn phản xạ qua bức tường hay tấm ván trước khi đi vào micro.

Vòng lặp âm thanh. (ảnh: nguồn internet)


Trần Ngọc Truyền biên soạn.

Thư viện âm thanh trong âm thanh điện ảnh

Các bài viết về lĩnh vực Âm thanh - Ánh sáng (link)

Nếu bạn làm phim có cảnh về con ONG và cần âm thanh của nó. Có hai cách:

THỨ 1: Tìm một tổ Ong, ném đá cho Ong bay ra rồi ghi âm. Cái giá phải trả có thể không chỉ tiền bạc, công sức mà đôi khi cả sức khỏe hay tính mạng.

THỨ 2: Tìm trên internet nhưng thư viện âm thanh, miễn phí hoặc thu phí, để dùng.

Sau đây là những thư viện âm thanh cực lớn, bạn có thể khai thác trong quá trình làm phim.





Thu thập âm thanh. (ảnh: nguồn internet)


Trần Ngọc Truyền biên soạn.